Hiểu rõ Sinh Trắc Vân Tay 4.0 từ gốc rễ
9:16 sáng Tháng Sáu 12, 2019
Trở lại danh sách tin tức

Sinh Trắc Vân Tay là một ngành khoa học được phát triển bởi các nhà khoa học và các chuyên gia dựa trên những hiểu biết về gen, thai nhi, sinh trắc học vân tay, thần kinh và tâm lý, kết hợp với các phương pháp quan sát, theo dõi, so sánh và tổng hợp.

Hãy cùng ngược dòng lịch sử về thế kỷ trước, thời gian mà lĩnh vực nghiên cứu về vân tay được hình thành và đã đặt nền móng cho những bước đầu tiên của ngành khoa học Sinh Trắc Vân Tay. Sự liên quan giữa vân tay và não bộ đã từ từ hé lộ nhờ những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới.

  • 1832

Charles Bell – nhà phẫu thuật người Anh khám phá mối liên kết giữa dấu vân tay và não bộ.

  • 1926

Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lý luận cường độ Pattern Intensity (PI) có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người. Ông cũng chứng minh dấu vân tay hình thành đồng thời với sự hoàn thiện cấu trúc não bộ giai đoạn từ 13-21 tuần thai kỳ.

  • 1943

Tiến sĩ Harold Cummins và Tiến sĩ Charles Midlo công bố chính thức Khoa học Dermatoglyphics.

  • 1950

Giáo sư Wilder Penfield – Nhà phẫu thuật thần kinh người Canada – công bố công trình “Biểu đồ mặt cắt của não bộ trong mối quan hệ với các bộ phận của cơ thể”, mô tả mối liên hệ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.

  • 1958

Noel Jaquin phát hiện tính cách con người qua so sánh các loại vân tay khác nhau. Ông là người tiên phong trong nghiên cứu và chuẩn đoán vân tay ở thế kỷ 20.

  • 1967

Beryl Hutchinson MBE là người đầu tiên phát hiện ra vân tay học có thể chứng minh đặc trưng tính cách bẩm sinh của mỗi người. Bà là người kế nhiệm điều hành hiệp hội nghiên cứu các loại hình sinh lý (Society for the Study of Physiological Patterns – SSPP) trên 30 năm.

  • 1972

Charlotte Wolff sử dụng các phương pháp thống kê, biểu đồ và các công cụ máy móc để giải thích mối liên hệ giữa bàn tay và ý thức. Qua kết quả thống kê cho thấy mối liên hệ mất thiết giữa mỗi bàn tay với ý thức và tiềm thức của con người, giữa các ngón tay với nhận thức và tư duy. Bà cho biết ngón cái và ngón trỏ có thể cho biết năng lực tự ý thức và ý chí của mỗi người.

  • 1981
Tiến sĩ Roger Wolcott Sperry đoạt giải Nobel cho công trình Split Brain – Chứng minh não chia làm nhiều vùng khác nhau và mỗi vùng đảm trách những chức năng khác nhau.
  • 1983
Tiến sĩ Howard Gardner – Đại học Harvard công bố thuyết Đa Thông Minh – Frames of Mind, chứng minh có 7 loại hình trí thông minh chứ không phải có có một chỉ số IQ (loại hình thứ 8 và 9 sau này mới được công bố).
  • 1985
Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Harvard nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết Dermatoglyphics – Thuyết Split Brain – Thuyết Đa Thông Minh, mở đường cho ứng dụng khoa học sinh trắc dấu vân tay trong việc xác định tiềm năng và tính cách bẩm sinh của một người.
  • 1986
Tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và Tiến sĩ Stanley Cohen đồng nhận giải Nobel cho công trình NGF – EGF (Chỉ số phát triển tế bào thần kinh – Chỉ số phát triển biểu bì), mở đường cho hướng nghiên cứu đo mật độ tế bào não qua mật độ tế bào da.

Năm 2018, IGC phối hợp cùng với W.A.I GROUP phát động chiến dịch Sinh Trắc Vân Tay 4.0 – Hiểu mình để thành công, tài trợ 2 tỷ đồng với hàng ngàn suất Sinh Trắc Vân Tay trợ giá cho công dân trên khắp Việt Nam.

Mục đích lớn nhất và quan trọng nhất là giúp công dân Việt Nam định hướng trong việc lựa chọn sự nghiệp tương lai phù hợp với thế kỷ 21, với bản báo cáo bao gồm danh sách hơn 500 nghề nghiệp phù hợp phổ biến được chấm điểm và sắp xếp thứ tự từ phù hợp nhất đến ít phù hợp nhất một cách cá nhân hóa dựa trên bản báo cáo STA.

Với sự cập nhật những hiểu biết khoa học mới nhất giúp bạn xác định những tố chất của bản thân và sẵn sàng cho cuộc Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 (The Fourth Industrial Revolution) đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.

Đăng kí làm Sinh Trắc Vân Tay để nhận ưu đãi tại đây